Lingua Lingua

italiano [Beta] italiano [Beta] English English

Blog Blog

Indietro

chứng bệnh lậu xuất hiện

chứng bệnh lậu thông qua vi rút sinh cho Neisseria gonorrhoeae. Nó thường truyền nhiễm vào biểu mô của niệu đạo, cổ tử cung, trực tràng, hầu họng, hay kết mạc, gây kích ứng hay đau và xuất huyết tản mạn. Khuếch tán tới da và khớp, là không phổ biến, tạo cho vết loét trên da, sốt, và viêm đa khớp di cư hoặc viêm xương khớp nhiễm khuẩn. Chẩn đoán bởi vì kính hiển vi, nuôi cấy, hoặc một số xét nghiệm khuếch đại acid nucleic. Các kháng sinh con đường uống hay tiêm được dùng, tuy vậy kháng thuốc là một câu hỏi càng ngày càng tăng.

 
khám bệnh lậu
 
phòng khám
 
 

N. Gonorrhoeae là một vi khuẩn gram âm hình cầu xếp đôi mà chỉ xảy ra ở người và gần như luôn luôn được lây qua quan hệ tình dục. Viêm nhiễm niệu đạo và cổ tử cung là phổ biến nhất, nhưng viêm nhiễm tại họng hoặc trực tràng có khả năng xảy ra dưới đây khi giao hợp tình dục miệng hoặc hậu môn, và viêm mắt có thể theo sau đây sự truyền bẩn mắt.

dưới đây khi lần quan hệ dục tình qua quan hệ âm đạo, chức năng lây nhiễm từ phụ nữ sang nam giới tầm 20%, tuy nhiên từ nam sang nữ giới, có thể lớn hơn. Trẻ sơ sinh có khả năng bị nhiễm trùng kết mạc khi sinh thường (xem Viêm kết mạc mắt lọt lòng : Nguyên nhân), và trẻ nhỏ có khả năng mang bệnh lậu do lạm dụng tình dục.

ở 10 đến 20% phụ nữ,từ nhiễm trùng cổ tử cung lan truyền lên tới nội mạc tử cung đến các ống dẫn trứng (viêm buồng trứng) và phúc mạc vùng chậu, làm cho bệnh viêm tiểu khuông (PID). Chlamydiae hoặc vi rút con đường ruột cũng có khả năng làm ra PID. Viêm cổ tử cung do lậu cầu thường đi kèm với chứng không dễ dàng tiểu hay viêm ống Skene và tuyến Bartholin. Tại một phần nhỏ nam giới, viêm niệu đạo có thể tiến triển tới viêm mào dịch hoàn.

nhiễm gonococcal nhiễm toả (DGI) bởi vì sự lây nhiễm trong máu sinh nên < 1% tình huống, chủ yếu ở phái nữ. DGI thường ảnh hưởng tới da, bao gân và khớp. Viêm màng ngoài tim, viêm nội tâm mạc, viêm màng não và viêm bao ngoài gan hi hữu khi diễn ra.

Đồng lây lan với Chlamydia trachomatis diễn ra từ 15 đến 25% nam giới bị dị tính và 35 tới 50% chị em.

hiện tượng và dấu hiệu
tầm 10 đến 20% nữ mắc truyền nhiễm và vô cùng ít phái mạnh mắc lan truyền không nhiễm biểu hiện. Tầm 25% đấng mày râu mắc hiện tượng tối thiểu.

Viêm niệu đạo ở anh em mang thời kỳ ủ căn bệnh từ 2 tới 14 ngày. Phát khởi thường mắc hiện tượng nhận thấy không thoải mái ở niệu đạo, tiếp theo là đau và đau nhức dương vật nặng nề hơn, chứng không dễ niệu và đái mủ. Tần suất tiết nước giải và tình trạng khẩn cấp có thể phát triển khi nhiễm trùng lây nhiễm đến niệu đạo dưới đây. Kiểm tra kiểm tra phát hiện ra mủ niệu đạo màu vàng-xanh, và lỗ tiểu có khả năng mắc viêm.

chứng bệnh lậu (viêm niệu đạo)
bệnh lậu (viêm niệu đạo)
© SPRINGER SCIENCE + BUSINESS MEDIA

Viêm mào tinh thường gây ra đau bìu đơn, đau, và sưng rái cá. Thảng hoặc khi, tại đàn ông phát triển thành ap xe của tuyến Tyson và Littre, áp xe quành niệu đạo, hoặc nhiễm trùng tuyến Cowper, tiền liệt tuyến, hay túi tinh.

Viêm cổ tử cung thường nhiễm thời kỳ ủ bệnh > 10 ngày. Các dấu hiệu từ nhẹ đến nặng và bao gồm không dễ dàng tiểu tiện và ra dịch âm đạo. Trong quá trình thăm khám vùng chậu, chuyên gia lâm sàng có khả năng chú tâm đến nhầy mủ cổ tử cung hoặc nước mủ, và cổ tử cung có nguy cơ lây màu đỏ và chảy máu một biện pháp dễ dàng khi chạm do dụng cụ. Viêm niệu đạo có thể xuất hiện đồng thời; mủ có thể chảy ra từ niệu đạo khi ép khớp mu hay từ các ống Skene hoặc tuyến Bartholin. Thảng hoặc khi, nhiễm trùng tại trẻ vị thành niên bị lạm dụng dục tình gây ra chứng khó tiểu, ra mủ âm đạo và kích ứng âm hộ, đỏ da và phù.

căn bệnh lậu (Viêm âm đạo)
chứng bệnh lậu (Viêm âm đạo)
© SPRINGER SCIENCE + BUSINESS MEDIA

PID xảy ra trong 10 tới 20% phụ nữ bị lây mang. PID có thể bao gồm viêm vòi trứng, viêm phúc mạc khu vực chậu và áp xe khuông chậu và có thể gây khó chịu tại bụng dưới (thường là hai bên), đau khi giao hợp, và đau khi thăm khám vùng bụng, phần phụ, hay cổ tử cung.

Hội chứng Fitz-Hugh-Curtis bệnh viêm bao quành gan gonococcal (hoặc chlamydia) xảy ra chính ở phái yếu và gây nên đau hạ khuông nên, sốt, buồn nôn và nôn mửa, thường giống chứng bệnh đường mật hoặc gan.

Lậu cầu trực tràng thường không mắc biểu hiện. Nó xảy ra chính tại nam giới mang giao hợp tình dục đồng tính thu nạp và có thể xảy ra ở phái nữ tham gia quan hệ tình dục qua quan hệ trực tràng. Biểu hiện bao gồm ngứa trực tràng, ra dịch đục hậu môn, chảy máu, và táo bón-tất cả các cấp độ nguy hiểm khác lạ nhau. Kiểm tra nghiệm bởi máy soi có nguy cơ nhận ra thấy ban đỏ hay nhầy mủ trên thành trực tràng.

Viêm họng bởi vì lậu cầu thường không triệu chứng nhưng có thể dẫn đến đau họng. N. Gonorrhoeae phải được phân biệt với N. Meningitidis và các sinh vật mang liên quan chặt chẽ khác lây mặt trong cổ họng mà không gây nên dấu hiệu hay dẫn đến hại.

viêm nhiễm cầu khuẩn nhiễm tỏa nhiễm (DGI), còn được liên lạc là hội chứng viêm khớp-viêm da, phản ảnh hiện tượng viêm nhiễm máu và thường hiện tượng với sốt, đau chuyển di hoặc sưng khớp (viêm đa khớp) và tổn thương da mụn mủ. Ở một số bệnh nhân, đau tiến triển và gân (ví dụ, tại cổ tay hoặc mắt cá chân) đỏ hay sưng. Một số tổn thương da thường diễn ra tại cánh tay hay chân, có nền đỏ, và nhỏ, hơi đau, và thường lây mụn mủ. Lậu kín, mầm truyền nhiễm phổ biến, có nguy cơ không mang biểu hiện. DGI có thể bắt chước các rối loàn bất thường gây sốt, tổn thương da, và viêm đa khớp (ví dụ, hiện tượng viêm gan B hoặc màng não cầu); một số các rối loàn bất bình thường cũng làm nên hiện tượng nhạy cảm (ví dụ:, viêm khớp phản ứng).

Lậu (tổn thương da)
Lậu (tổn thương da)
HÌNH ẢNH CỦA DR. S. E. THOMPSON VÀ J. PLEDGER thông qua THƯ VIỆN HÌNH ẢNH Y TẾ CÔNG CỘNG CỦA trọng điểm KIỂM SOÁT VÀ ngừa phòng DỊCH căn bệnh.

căn bệnh viêm khớp bởi vì lan truyền lậu cầu là một kiểu DGI cục bộ hơn gây viêm khớp đau với tràn dịch, thường là 1 hay 2 khớp nhiều như đầu gối, mắt cá chân, cổ tay, hoặc khuỷu tay. Một số người nhiễm bệnh chứa hoặc mắc tiền sử thương tổn da của DGI. Sự khởi phát thường rất cấp tính, thường bị sốt, đau khớp dữ dội, và làm giảm hoạt động. Một số khớp bị lây nhiễm sưng lên, và da ngoài có thể ấm và đỏ.

nhận biết
Nhuộm Gram và cấy
thăm khám axit nucleic
bệnh lậu được chẩn đoán khi căn bệnh giang phổi được nhận ra thông qua kiểm tra bởi kính hiển vi mẫu nhuộm Gram, nuôi cấy, hay xét nghiệm nucleic acid dịch kín, máu, hay chất lỏng khớp (thu được do hút kim).

Nhuộm Gram là nhạy và đặc hiệu đối với bệnh lậu tại đấng mày râu bị ra mủ niệu đạo; cầu vi khuẩn xếp đôi Gram âm thường được nhận ra. Nhuộm Gram ít xác thực hơn đối với một số trường hợp nhiễm trùng cổ tử cung, họng và trực tràng và không được khuyến cáo nhằm phát hiện ở những cơ sở này.

Cấy là nhạy cảm và đặc hiệu, tuy nhiên vì vi rút gonococci hết sức mỏng mảnh và khó cấy, những mẫu lấy qua tăm bông nên được mau chóng phết trên môi trường thích hợp (thí dụ Thayer-Martin) và vận chuyển tới phòng thể nghiệm bằng những thùng chuyển vận có mắc CO2. Mẫu máu và khớp lỏng phải được gửi đến phòng xét nghiệm với thông báo rằng nghi ngờ lan lậu cầu. Bởi một số thăm khám khuếch đại acid nucleic đã thay thế nuôi cấy trong phần lớn những phòng thử nghiệm, vấn đề tìm kiếm một phòng thử nghiệm có thể cung cấp vấn đề thăm khám nuôi cấy và độ nhạy cảm có thể vô cùng không dễ khăn và cần được tư vấn với chuyên gia về sức khoẻ cộng đồng hay bác sĩ chuyên khoa về bệnh hoa liễu.

thăm khám khuếch đại acid nucleic (NAATs) có nguy cơ được tiến hành trên dịch sinh dục, trực tràng hoặc miệng. Phần lớn các xét nghiệm Đồng thời nhận ra bệnh lậu và lan nhiễm chlamydia và sau đây đó phân biệt giữa chúng trong một xét nghiệm cụ thể tiếp theo. NAATs nâng cao độ sinh dục cho thăm khám mẫu nước đái ở cả hai giới.

ở Hoa Kỳ, nên báo cáo các tình huống bệnh lậu, lây chlamydia và giang mai cho đội ngũ y tế công cộng. Một số kiểm tra huyết thanh học cho bệnh giang mai (STS) và HIV và NAAT để gạn lọc lan nhiễm chlamydia cũng cần được thực thi.

nam giới bị viêm niệu đạo
đấng mày râu mắc rò rỉ chi tiết có thể được chữa bệnh một phương pháp giả tạo nếu có thể tiếp tục theo dõi hay nếu các dụng cụ nhận biết tùy thuộc trên cơ sở y tế không lây sẵn.

các mẫu nhằm nhuộm Gram có khả năng thu được bởi phương pháp chạm vào một cái tăm hoặc trượt đến cuối dương vật nhằm lấy chất thải. Nhuộm Gram không xác định được Chlamydiae, vì vậy có thể lấy mẫu nước tiểu hoặc SWAB cho NAAT.

phái nữ bị hiện tượng hoặc triệu chứng sinh dục
Một mẫu ngoáy dịch cổ tử cung nên được gửi nuôi cấy hay NAAT. Nếu không thể xét nghiệm sườn chậu, NAAT của mẫu nước tiểu hay tăm bông âm đạo tự thu thập được có thể phát hiện chứng bệnh lây nhiễm lậu cầu (và chlamydia) một cách mau chóng và đáng tin cậy.

Phơi lây lan họng hoặc hậu môn (cả hai giới tính)
Ngoáy dịch của vùng bị ảnh hưởng được gửi cho văn hoá hoặc NAAT.

Viêm khớp, DGI, hoặc cả hai
Một khớp mắc ảnh hưởng cần được dẫn lưu, và dịch khớp phải được gửi nuôi cấy và phân tách liên tục (dẫn lưu dịch khớp). Người bị bệnh bị tổn thương da, triệu chứng toàn thân, hoặc cả hai cần nhiễm nuôi cấy máu, niệu đạo, cổ tử cung và hậu môn hay NAAT. Trong khoảng 30 đến 40% người mang bệnh với DGI, cấy máu dương tính trong tuần trước tiên của bệnh. Với căn bệnh viêm khớp lậu cầu, nuôi cấy máu thường ít dương tính, nhưng nuôi cấy dịch khớp là dương tính. Dịch khớp thường đục đến mủ thông qua số lượng lớn WBCs (thường > 20,000/μL).

chắt lọc
những người có bệnh không nhiễm dấu hiệu được có thể cao nhiễm bệnh lây lan qua quan hệ tình dục (STDs) có thể được gạn lọc bởi NAAT các mẫu nước giải, cho nên không nên thủ tục xâm lấn nhằm lấy mẫu từ một số cơ quan kín.

phái đẹp không mang thai (bao gồm cả các phái nữ mang giao hợp tình dục với phụ nữ) được sàng lọc hàng năm nếu họ

mang quan hệ dục tình và ≤ 24 tuổi
nhiễm tiền sử mắc bệnh STD
tham gia vào hành vi dục tình có thể lớn (ví dụ: chứa bạn tình mới hay nhiều bạn tình, tham gia vào mại dâm, sử dụng bao cao su không thường xuyên)
mang một bạn tình tham gia vào hành vi có nguy cơ nhiều
thai phụ được kiểm tra trong lần khám xét thai trước hết của họ và một lần nữa trong 3 tháng cuối nếu họ ≤ 24 tuổi hay mắc một số yếu tố nguy cơ.

Người đàn ông hoạt động dục tình lạ giới không được thăm khám định kỳ trừ khi họ được đánh giá là có thể nhiều (ví dụ như một số người mắc "yêu" tình dục đồng giới, người bệnh ở trung tâm y tế thanh thiếu niên hoặc STD, nam giới vào các cơ sở cải huấn).

anh em quan hệ tình dục đồng giới được xét nghiệm nếu họ đã có hoạt động dục tình trong năm trước (đối với người cho, sàng lọc nước tiểu, với quan hệ tiếp thụ, ngoáy trực tràng và cho giao hợp bởi vì đường miệng, ngoáy họng).

(Xem thêm tóm lược các khuyến nghị của Nhóm công việc ngừa phòng Hoa Kỳ screening for gonorrhea.)

điều trị
Đối với viêm nhiễm không hậu quả, một liều độc nhất vô nhị ceftriaxone cộng với azithromycin
Đối với DGI mắc viêm khớp, một đợt kháng sinh đường dùng dài hơn
điều trị đồng lan nhiễm Chlamydia
điều trị đối tác
viêm nhiễm lậu cầu cổ tử cung, hậu môn và họng không tai biến được trị bệnh như sau:

Ưu tiên: Một liều độc nhất vô nhị của ceftriaxone 250 mg bắp giết cộng với azithromycin 1 g uống một lần (thay thế cho azithromycin là doxycycline 100 mg po hai lần một ngày trong 7 ngày)
tuyển lựa thứ hai: Một liều duy nhất của cefixime 400 mg sử dụng cộng với azithromycin 1 g uống một lần
người có bệnh mắc dị ứng với cephalosporin, được điều trị bằng một trong một số thuốc sau:

Gemifloxacin 320 mg uống cộng với azithromycin 2 g uống
Gentamicin 240 mg bắp giết cộng với azithromycin 2 g uống
liệu pháp đơn chữa trị và một số thuốc fluoroquinolones uống (ví dụ, ciprofloxacin, levofloxacin, ofloxacin) hoặc cefixime không còn được khuyến cáo bởi vì sự nâng cao kháng thuốc. Thí điểm khỏi căn bệnh chỉ được khuyến cáo đối với người có bệnh được điều trị do phác đồ thay thế cho viêm nhiễm họng.

DGI với căn bệnh viêm khớp gonococcal ban đầu được điều trị vì kháng đẻ lặng hay IV (ví dụ, ceftriaxone 1 g bắp làm thịt hay thĩnh mạch mỗi 24 giờ, ceftizoxime 1 g tĩnh mạch mỗi 8 giờ, cefotaxime 1 g mạch máu mỗi 8 giờ) tiếp tục trong 24 tới 2 ngày một khi dấu hiệu giảm, tiếp theo là 4 tới 7 ngày chữa trị thuốc dùng. Thuốc kháng chlamydia cũng thường được dùng.

chứng bệnh viêm khớp lậu cầu thường không đòi hỏi cần dẫn lưu dịch khớp. Ban đầu, khớp là nhất mực tại một vị trí chức năng. Một số bài tập động thụ động thụ động cần được bắt đầu ngay khi người mắc bệnh có thể chịu đựng được. Sau đây khi giảm đau, cần tập thể dục cao hơn, kéo dài và cải thiện cơ bắp. Trên 95% người bệnh điều trị bệnh viêm khớp qua căn bệnh gonococcal phục hồi khả năng khớp hoàn chỉnh. Bởi vì sự tích tụ dịch khớp sát trùng (tràn dịch khớp) có thể kéo dài trong giai đoạn dài, thuốc chống viêm có thể nhiễm lợi.

Cấy virus dưới đây trị bệnh là không nhất thiết nếu đáp ứng hiện tượng là đầy đủ. Tuy vậy, đối với bệnh nhân lây hiện tượng > 7 ngày, nên lấy mẫu, nuôi cấy, và xét nghiệm độ kín của kháng đẻ.

người có bệnh cần kiêng sinh hoạt dục tình cho đến khi điều trị được hoàn tất nhằm phòng ngừa lây nhiễm cho bạn tình.

Lợi và hại
để giảm thiểu sự kháng thuốc, các chuyên gia không còn đề nghị đơn chữa trị liệu cho căn bệnh lây truyền lậu cầu.
đối tác
tất cả đối tác có "yêu" dục tình với người nhiễm bệnh trong vòng 60 ngày nên được xét nghiệm bệnh lậu và một số chứng bệnh STDs bất bình thường và chữa bệnh nếu kết quả dương tính. Những bạn tình có tiếp xúc trong vòng 2 tuần phải được điều trị tùy ý bởi chứng bệnh lậu (điều trị dịch tễ).

phương pháp bạn tình nhanh (EPT) bao gồm việc đưa cho người bị bệnh một toa thuốc hoặc thuốc để cung cấp cho đối tác của họ. EPT có nguy cơ làm tăng sự tuân theo của bạn tình và giảm sự thất bại trị bệnh thông qua tái phát. Có nguy cơ phù hợp nhất với bạn tình của phái đẹp bị bệnh lậu hay lây truyền chlamydia. Tuy vậy, một chuyến kiểm tra sức khoẻ là tốt hơn nhằm xác định lịch sử của dị ứng thuốc và để chắt lọc cho một số STDs không bình thường.

Precedente
Commenti
Nessun commento. Please sign in to comment.